+84 98 7190 013 1900633686 (Miễn phí) 24/7/365 info@medezevn.com

Kể từ khi được phát hiện từ nhiều thập kỷ trước, công nghệ tế bào gốc ngày nay được ứng dụng để điều trị hơn 80 căn bệnh nguy hiểm. Để đạt được được thành tựu đó, việc lưu trữ và ứng dụng tế bào gốc đã trải qua rất nhiều giai đoạn lịch sử.

Mặc dù nguồn gốc thực sự của phát hiện cấy ghép tủy xương vẫn còn chưa được xác định rõ, ta chỉ biết rằng khám phá này đã có mặt rất sớm. New York năm 1956, một bác sĩ người Mỹ E. Donnall Thomas thực hiện thành công ca cấy ghép tủy xương đầu tiên cho một bé gái 3 tuổi bằng mẫu tủy xương được hiến từ chính đứa em song sinh của bé.

Mặc dù sự thành công của liệu pháp chỉ kéo dài trong 6 tháng nhưng ca phẫu thuật đã thực sự đánh dấu cho bước phát triển về cấy ghép máu và tủy xương sau này, để chữa trị căn bệnh ung thư bạch cầu lúc bấy giờ.

Những phát hiện đầu tiên

Năm 1961, các nhà nghiên cứu Canada đã chứng minh sự tồn tại của các tế bào có thể tự làm mới nhiều lần. Chúng, tất nhiên, là tế bào gốc. Vài năm sau, vào năm 1968, các bác sĩ của Đại học Minnesota đã trở thành người đầu tiên trên thế giới sử dụng phương pháp cấy ghép tủy xương để chữa trị cho một trẻ sơ sinh bị suy giảm miễn dịch lympho liên kết X và một người khác mắc hội chứng Wishkott-Aldrich.

Năm 1969, Edward Donnall Thomas đã thực hiện ca ghép tủy xương thành công đầu tiên bằng cách sử dụng tế bào gốc được thu hoạch từ người khác.

Từ đó, liệu pháp cấy ghép tủy xương đã được sử dụng để điều trị thành công bệnh bạch cầu và các bệnh và tình trạng khác trong những năm sau đó nữa.

Vào những năm 1970, những nghiên cứu và khám phá trong lĩnh vực tế bào gốc bắt đầu tăng tốc nhanh chóng.

Năm 1974, lần đầu tiên con người phát hiện ra thứ có công dụng điều trị bệnh tương tự như tủy xương, gọi là tế bào gốc, có trong máu dây rốn của trẻ sơ sinh. Đến năm 1983, tiến sĩ Broxmeyer và các đồng nghiệp đưa ra được ý tưởng về việc sử dụng mô dây rốn làm nguồn nguyên liệu cấy ghép trong điều trị bệnh. Nghiên cứu của họ đã đồng thời công bố sự tồn tại của tế bào gốc mô dây rốn của trẻ sơ sinh. Loại tế bào gốc mô dây rốn này có thể được dùng để chữa các bệnh về cơ, xương, khớp, mô mỡ, các bệnh lý về tổn thương giác mạc, thần kinh và da.

>>> Xem thêm bài viết về chi phí lưu tế bào gốc tại:  https://medezevn.com/vi/gia-tien-luu-te-bao-goc-ngay-cang-kho-kiem-soat-p259 

Sau công bố này, không chỉ có tiến sĩ Broxmayer cùng đồng nghiệp, mà còn có nhiều nhà khoa học lẫn chuyên gia ủng hộ ông trong lĩnh vực cũng đã tập trung nghiên cứu và tìm kiếm. Để rồi, vào năm 1985, họ đã tìm ra cách thu thập tế bào gốc máu lẫn tế bào gốc mô trong dây rốn của trẻ sơ sinh.

tế bào gốc trong cuống rốn và bánh nhau

Trong cuống rốn và bánh nhau của trẻ sơ sinh có chứa dồi dào các loại tế bào gốc máu và mô

Ba năm sau đó, vào năm 1988, tiến sĩ Broxmeyer và các đồng nghiệp tiếp tục công bố phát hiện của mình trên một bài báo trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, xác định rằng máu cuống rốn có các thuộc tính tương tự như tủy xương và là nguồn tế bào gốc dồi dào để sử dụng cho việc điều trị các căn bệnh hiểm nghèo.

Và thế là trong cùng năm, ca ghép tế bào gốc máu dây rốn thành công đầu tiên được tiến hành để tái tạo máu và tế bào miễn dịch cho một bé trai 5 tuổi bị mắc chứng rối loạn máu Fanconi Anemia; người hiến tế bào gốc máu cho cậu bé không ai khác chính là em gái mới sinh của cậu. Cho đến hôm nay, cậu bé ấy đã 33 tuổi, đã kết hôn, và là một người cha. Và hãy thử đoán xem, anh ấy cũng đã chọn cách lưu trữ tế bào gốc dây rốn cho con mình.

Ngân hàng máu công cộng đầu tiên

Mặc dù việc lưu trữ tế bào gốc bằng phương pháp đông lạnh đã được thực hiện từ năm 1983 trong các phòng thí nghiệm và viện nghiên cứu tế bào gốc tại Mỹ nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu. Tuy nhiên, đến năm 1992, việc lưu trữ tế bào gốc máu dây rốn mới được tiến hành và mở cửa để người bệnh và người hiến sử dụng tại Trung tâm máu New York. Với sự tài trợ của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), Trung tâm máu New York thành lập ngân hàng máu dây rốn công cộng đầu tiên, hiện có 60.000 mẫu được hiến.

công dụng của tế bào gốc

Tế bào gốc được lưu trữ bằng cách đông lạnh ở nhiệt độ -196 độ C bằng Nito lỏng

Năm 1993: Trường hợp ghép máu dây rốn dị thân thành công đầu tiên. Mitch Santa, chỉ chưa đầy 2 tuổi, lúc bấy giờ đã trở thành người đầu tiên được ghép máu dây rốn thành công từ một người hiến tặng không cùng huyết thống để chữa khỏi căn bệnh bạch cầu cấp tính.

Năm 1995: Ca phẫu thuật ghép máu cuống rốn đầu tiên được thực hiện để chữa bệnh ung thư bạch cầu đầu tiên ở người lớn diễn ra thành công.

Năm 1997: Ghép máu dây rốn đầu tiên. Một người đàn ông 46 tuổi mắc bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính trở thành người trưởng thành đầu tiên được ghép mẫu máu dây rốn được tăng sinh trong phòng thí nghiệm. Việc tăng sinh máu dây rốn trong phòng thí nghiệm không chỉ có ý nghĩa giúp duy trì nguồn nguyên liệu sẵn có cho các trường hợp khẩn cấp, mà còn giúp người bệnh không có nguồn máu dự trữ riêng có thêm cơ hội được cứu sống.

>>> Xem thêm về ứng dụng tế bào gốc trong trị bệnh bach cầu tại: https://medezevn.com/vi/ung-dung-te-bao-goc-trong-dieu-tri-benh-bach-cau-p255 

Từ sự hỗ trợ của chính phủ cho đến sự ủng hộ của người dân

1998: Mười năm sau ca cấy ghép đầu tiên, Chương trình Hiến tủy cấp Quốc gia của Hoa Kỳ triển khai Chương trình Máu Cuống Rốn và ca ghép đầu tiên đã được thực hiện để chữa bệnh thiếu máu hồng cầu lưỡi liềm. Chương trình này đã cho thấy tầm quan trọng của máu dây rốn lúc bấy giờ dần được lan truyền đến tất cả mọi người từ chính phủ đến người dân.

Năm 2001, giáo sư Christine Mummery và nhóm nghiên cứu của cô ở Hà Lan đã sử dụng tế bào gốc để tạo ra các tế bào tim có thể đập giống như một trái tim thực thụ đầu tiên trong phòng thí nghiệm. Sự thành công của nghiên cứu này sẽ cho chúng ta tiến gần hơn đến việc tìm hiểu nguyên nhân gây các bệnh lý về tim mạch, đặc biệt là nguyên nhân di truyền. Nó cũng sẽ cải thiện sự phát triển của các loại thuốc thường được thử nghiệm trên động vật, vì trái tim động vật hoạt động khác với trái tim của chúng ta.

Năm 2002, nhà nghiên cứu Chunhui Xu và nhóm nghiên cứu tại Đại học Y Emory ở Atlanta đã phát hiện ra rằng tế bào gốc phôi người có thể được tạo ra để hình thành các tế bào cơ tim. Khám phá này đã khuyến khích các nhà khoa học khám phá liệu tế bào gốc phôi có thể được sử dụng để tạo cơ tim mới cho bệnh nhân đau tim hay không. Khi một người bị đau tim, lưu lượng máu đến tim bị hạn chế hoặc bị chặn có thể khiến các tế bào tim bị chết. Mặc dù ít được sử dụng hơn các loại tế bào khác, tế bào gốc phôi đã giúp các nhà nghiên cứu khám phá những cách mới trong việc sử dụng tế bào gốc để chữa trị các vấn đề về tim của chúng ta

Năm 2006: Các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc “lập trình lại”, hay còn có thể hiểu là “biến đổi” các tế bào soma thành trạng thái giống như tế bào gốc, tức có khả năng thích ứng để tăng sinh và biệt hóa thành đa dạng tế bào. Loại tế bào gốc mới này sau đó được gọi là “Tế bào gốc đa năng cảm ứng” (iPSCs).

Nghiên cứu mới nhất này đã mang đến cho các nhà nghiên cứu hy vọng cung cấp y học cá nhân hóa, vì nó cho phép các nhà khoa học nắm bắt bộ gen độc đáo hoặc bộ DNA hoàn chỉnh trong tất cả các gen của một cá thể trong một loại tế bào. Hy vọng rằng một ngày nào đó những iPSC này có thể được sử dụng để tạo ra tất cả các loại tế bào trong cơ thể. Với những cải tiến không ngừng về hiệu quả và sự mạnh mẽ của việc tạo ra các tế bào iPS, triển vọng cho tương lai của nghiên cứu tế bào và phương pháp điều trị dựa trên tế bào gốc cho các bệnh thoái hóa là rất khả thi. Tế bào gốc có thể điều trị các tình trạng mà y học cổ truyền không thể giải quyết.

Năm 2007: Sau những thử nghiệm lâm sàng về ghép tế bào gốc của anh chị em lẫn nhau được thực hiện thành công, các bác sĩ xác định việc cấy ghép máu dây rốn có thể sản xuất protein cần thiết cho việc tái tạo da của cơ thể. Nhờ đó, tổng thống George W. Bush đã ban hành Lệnh điều hành, kêu gọi có thêm các cuộc nghiên cứu để tìm ra các nguồn tế bào gốc đa năng thay thế trong việc tái tạo mô da, trong đó có tế bào gốc máu dây rốn.

2009: Tổng số ca cấy ghép máu dây rốn được thực hiện trên toàn thế giới vượt con số 20.000 trường hợp.

điều trị bệnh bằng công nghệ tế bào gốc

Phương pháp điều trị bệnh bằng công nghệ cấy ghép tế bào gốc dần trở nên phổ biến hơn trong y học hiện đại bởi tính hiệu quả và an toàn

2012: Hàng loạt các cuộc thử nghiệm lâm sàng cho thấy máu dây rốn đã mang đến cho y học 3 thành tựu lớn: Nó đã được chứng minh là một phương pháp điều trị hiệu quả căn bệnh bại não; Máu dây rốn được sử dụng trong điều trị cho trẻ tự kỷ; Và giúp một bệnh nhân xây dựng lại hệ thống miễn dịch chỉ sau 2 tuần. Bên cạnh đó, một thành tựu khác từ việc nghiên cứu tăng sinh máu dây rốn cũng cho thấy, các nhà nghiên cứu có thể nhân bản trong phòng thí nghiệm tế bào gốc máu dây rốn lên với số lượng gấp 30 lần. Nhờ đó mà những lợi ích có được từ việc ứng dụng máu dây rốn cũng được nhân lên theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

2012: Hơn 80 bệnh khác nhau hiện đang được điều trị bằng tế bào gốc máu dây rốn và hơn 350 thử nghiệm lâm sàng đang trong quá trình điều trị bệnh Alzheimer và bệnh Parkinson.

công dụng tế bào gôc

Việc ứng dụng công nghệ tế bào gốc vào điều trị các căn bệnh khó chữa như Alzheimer và Parkinson dần có tiến triển tích cực

2013: Lượng tế bào gốc được lưu trữ trên toàn thế giới đạt 3 triệu mẫu. Hai mươi lăm năm sau lần cấy máu dây rốn đầu tiên, một thử nghiệm lâm sàng cố gắng sử dụng máu dây rốn của chính trẻ em để ngăn ngừa bệnh tiểu đường loại 1; ca ghép máu dây rốn đầu tiên cho trẻ mắc cả bệnh bạch cầu và HIV cũng được thực hiện. Hơn 30.000 ca cấy ghép đã được thực hiện trên toàn thế giới; dự trữ máu cuống rốn thế giới trong kho lưu trữ lên tới 650.000 tại các ngân hàng công cộng và 2,5 triệu tại các ngân hàng gia đình.

Những điều kỳ diệu sẽ không ngừng tiếp diễn

Từ căn bệnh đầu tiên được chữa khỏi nhờ tế bào gốc máu dây rốn vào năm 1988, sau gần 25 năm với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và khoa học kỹ thuật dùng trong ngành y, chúng ta đã có thể thở phào nhẹ nhõm khi có thêm 80 căn bệnh hiểm nghèo nữa được đẩy lùi bởi công nghệ tế bào gốc.

ứng dụng tế bào gốc

Để công nghệ tế bào gốc đạt được các thành tựu như ngày nay, ta không thể không kể đến tầm quan trọng của kỹ thuật lưu trữ tế bào gốc

Không chỉ dừng ở đó, với sự tiến bộ của nền y học hiện đại, nhiều công dụng tế bào gốc khác chưa được biết sẽ được tiếp tục tìm ra và phát triển trong tương lai. Theo các nhà khoa học, trong tương lai, tế bào gốc có khả năng chữa được tận gốc các căn bệnh nan y  như: AIDS, bệnh tự kỷ, u não, bại não, tai biến mạch máu não, ung thư buồng trứng, tiểu đường loại I,...

Và biết đâu được, chỉ vài năm nữa thôi, tất cả các căn bệnh đã được biết đến sẽ được điều trị dứt điểm thì sao. Theo lý thuyết, số căn bệnh và biến chứng mà tế bào gốc có thể chữa khỏi là không giới hạn. Vì vậy mà chúng ta có quyền mơ ước và có lý do để chờ đợi điều đó biến thành hiện thực, nhờ có công nghệ lưu trữ tế bào gốc tiên tiến như hiện nay.

MEDEZE GROUP - VIỆT NAM

Hotline: 1900633686 (Miễn phí 24/7)

Email: info@medezevn.com